mardi 12 mai 2015

Đâu là 'thiên đường' cho người về hưu?

Đâu là 'thiên đường' cho người về hưu?


Nắng ấm và giấc mơ có một cuộc sống trọn vẹn hơn với đồng lương hưu khiến ngày càng có nhiều người hưu trí chọn các nước xa xôi cho những năm cuối đời.
Những người về hưu tìm kiếm một cuộc sống có nhịp sống chậm hơn, thời tiết ấm hơn, chi phí sinh hoạt thấp hơn và mức thuế ưu đãi hơn.
Nên chọn các thị trấn có nhiều cây xanh ở phía nam nước Pháp hay là các bãi biển sôi động ở Trung Mỹ? Xin giới thiệu với các bạn bảy quốc gia được xem là tốt nhất cho tuổi nghỉ hưu.

Panama bình yên

Panama có hệ thống y tế có tiếng với nhiều bác sĩ được đào tạo ở Mỹ và châu Âu (ảnh Elmer Martinez / Getty Images)
Nếu bạn đang tìm kiếm nơi để nghỉ hưu sao cho đồng tiền của bạn tiêu pha được lợi nhất thì Panama, nước cận nam Trung Mỹ, có thể là nơi phù hợp với bạn.
Thành phố Panama, thủ đô của Panama, được xếp hạng 124 về chi phí sinh hoạt trên tổng số 131 thành phố trên toàn cầu, theo Economist Intelligence Unit.
Chi phí sinh hoạt tại đây rẻ hơn so với Manila ở Philippines, một trong những thành phố vốn có chi phí thấp nhất ở Đông Nam Á.
Một bữa ăn ba món cho hai người trong một nhà hàng tầm trung ở Panama mất 32,50 balboas Panama (32,50 USD), ít hơn một nửa giá bữa ăn trưa như vậy ở thành phố New York, theo numbeo.com, một website chuyên theo dõi giá cả sinh hoạt hàng ngày.
Và với đồng tiền balboas của Panama có tỉ giá neo vào đồng đô la Mỹ, người Mỹ về hưu không phải đối mặt với bất kỳ cú sốc giá nào do biến động tiền tệ.
Thu nhập ổn định và đều đặn là yêu cầu chính để xin visa.
Nếu bạn nhận được một khoản tiền hưu 1.000 USD hoặc nhiều hơn một tháng, bạn không phải lo nhiều về việc xin "visa du lịch cho người nghỉ hưu" và một khi đã được cấp thì visa có thời hạn vĩnh viễn.
Panama là có hệ thống y tế có tiếng với nhiều bác sĩ được đào tạo ở Mỹ và châu Âu.
Tuy nhiên, người hưu trí nên lên kế hoạch chi ít nhất là 200 USD một tháng cho bảo hiểm y tế tư nhân.
Mặc dù vậy bạn sẽ không cần nhiều tiền để tìm một căn nhà. Một căn ba phòng ngủ ở Boquete, thị trấn trên núi được nhiều người ưa chuộng, có giá khoảng 179.000 USD, theo globalpropertyguide.com.

Vẻ đẹp quyến rũ của Pháp

Pháp cũng có hệ thống y tế được xem là một trong các nước tốt nhất thế giới (ảnh Thinkstock)
Là điểm đến số một về du lịch trên thế giới, Pháp tự hào có nhiều thắng cảnh thiên nhiên: các thị trấn và thành phố xinh đẹp, món ăn ngon, rượu vang giá cả phải chăng và khí hậu ấm áp ở miền nam.
Đó là lý do Pháp là nơi thu hút nhiều người nước ngoài trong Liên minh châu Âu nhất.
Nhưng, chi phí không phải là điều luôn được mọi người cân nhắc nhiều nhất khi nghĩ về kế hoạch nghỉ hưu ở Pháp.
Đất nước này có mức thuế và chi phí xã hội tương đối cao, cũng như thuế tài sản, vốn được đánh vào tài sản toàn cầu của người sống tại Pháp khi vượt quá 800.000 euro (984.000 USD).
Nhưng bù lại chi phí đắt đỏ đó là những mặt tích cực.
Pháp có một hệ thống giao thông công cộng rất tốt, bao gồm một mạng lưới đường sắt cao tốc trên toàn quốc.
Từ Paris đến Montpellier ở miền nam nước Pháp, với khoảng cách 600km, chỉ mất hơn ba giờ trên tàu TGV, với mức vé giảm giá cho người từ 60 tuổi trở lên.
Pháp cũng có hệ thống y tế được xem là một trong các nước tốt nhất thế giới, được chính phủ trợ cấp rất nhiều, theo Tổ chức Y tế Thế giới.
Vì vậy, nếu bạn trở thành một cư dân hợp pháp, y tế có thể sẽ rẻ hơn nhiều so với nhiều nước phương Tây khác.
Hơn nữa, Pháp không phải là một lựa chọn tốn kém.
Đi ăn tiệm không phải là quá tốn kém, và bên ngoài Paris, giá bất động sản tương đối thấp.
Giá nhà từ khoảng 73.000 euro (91.000 USD) cho một căn tại Creuse ở Limousin trong vùng Massif Central, cho tới 415.000 euro (515.000 USD) cho một căn nhà trung bình ở Alpes-Maritimes Provence-Alpes-Côte d'Azur, tức là bao gồm cả những khu nghỉ dưỡng được mến chuộng như Cannes, theo giới buôn bán bất động sản tại Pháp.

Nắng ấm Malaysia

Malaysia được xếp hạng là một trong điểm đến "du lịch chữa bệnh" hàng đầu thế giới (ảnh Mohd Rasfan/Getty Images)
Bạn muốn hưởng nắng ấm quanh năm? Malaysia chắc chắn là một ứng viên.
Nước cựu thuộc địa của Anh này có tất cả, từ các cao ốc tại thành phố nhộn nhịp ở thủ đô Kuala Lumpur cho đến các bãi biển nhiệt và rừng nhiệt đới.
Đây cũng là nơi có chi phí sống rẻ; tạp chí International Living xếp hạng Malaysia là nước thứ ba với mức giá rẻ nhất trong chi phí toàn cầu của chỉ số sinh hoạt.
Tạp chí này nói một cặp có thể sống thoải mái trong một căn hộ sang trọng nhìn ra biển với khoảng 1.700 USD một tháng.
Website xpatulator.com, chuyên phân tích chi phí y tế và nhà ở cho người nước ngoài xếp Malaysia là "rất thấp" so với những nơi đắt đỏ như Hong Kong hay Australia.
Malaysia được xếp hạng là một trong điểm đến "du lịch chữa bệnh" hàng đầu thế giới vì thu hút hơn 700.000 du khách tới chữa bệnh trong năm 2013, theo Hội đồng Du lịch Y tế Malaysia.
Chính sách ưu đãi thuế cũng hấp dẫn. Thêm vào đó là tiếng Anh được sử dụng rộng rãi, ăn ở nhà hàng là khá rẻ và người nước ngoài được quyền sở hữu bất động sản.

Malta, đảo đẹp như tranh

Có hơn 5.000 công dân Anh sống trên hòn đảo nhỏ vốn chỉ cách London ba giờ bằng máy bay (ảnh Thinkstock)
Malta, một trong những quốc gia nhỏ nhất và đông dân nhất trên thế giới, có diện tích chỉ 120 dặm vuông và tự hào có dân số 400.000 người.
Với tiếng Anh được sử dụng rộng rãi tại hòn đảo phía nam châu Âu này, không có gì lạ khi người Anh thường đổ về đây. Có hơn 5.000 công dân Anh sống trên hòn đảo nhỏ vốn chỉ cách London ba giờ bằng máy bay.
Người Anh về hưu tìm thấy nhiều thứ như ở Anh (chẳng hạn như các cửa hàng và siêu thị Anh), cũng như rất nhiều thứ không có ở Anh (nắng ấm quanh năm và và có nhiệt độ trung bình hàng năm là 18 độ C (64 F).
Thêm vào đó là "Chương trình Hưu trí Malta", trong đó cho phép các công dân EU định cư tại đây hưởng mức thuế thu nhập là 15%.
Malta, được đặt tên ngôn ngữ địa phương có nghĩa là mật ong cũng là nơi có những điểm hấp dẫn hơn cho người nghỉ hưu.
Nước này tự hào có một hệ thống y tế hạng cao (xếp thứ năm trên thế giới theo WHO) và miễn phí cho tất cả các công dân, cũng như cư dân người Anh, theo một quy định y tế đối ứng với Vương quốc Anh.
Lịch sử và kiến trúc phong phú của vùng Địa Trung Hải của đảo đẹp như tranh này cũng không phải là quá đắt đỏ.
Theo trang web numbeo.com, tiền thuê nhà hàng tháng cho một căn hộ ba phòng ngủ ở thủ đô Valletta là 700 euro (850 USD) và một bữa ăn ba món cho hai người tại một nhà hàng tầm trung là chỉ khoảng 50 euro (60 USD).

Biển cát trắng Bồ Đào Nha

Bồ Đao Nha có khí hậu thuận lợi của Địa Trung Hải (ảnh Thinkstock)
Với vô số làng chài và các thị trấn từ thời trung cổ, cũng như các bãi biển, sân golf, người ta có thể dễ dàng thấy được lý do tại sao Bồ Đào Nha là nơi được người nghỉ hưu mong muốn tới.
Với số người nước ngoài ở đây đã lâu năm, tiếng Anh là ngôn ngữ được sử dụng rộng rãi.
Lisbon, thủ đô Bồ Đào Nha, là một trong những thành phố lâu đời nhất trên thế giới và có khí hậu thuận lợi của Địa Trung Hải.
Nhưng điểm đến hàng đầu ở Bồ Đào Nha cho người về hưu là bờ biển Algarve nhìn ra Đại Tây Dương. Ở đây bạn sẽ thấy biển xanh, nắng ấm phần lớn trong năm với nhiệt độ trung bình từ 12°C (54°F) vào tháng Một đến 24°C (74°F) vào tháng Bảy.
Tuy nhiên, bất cứ nơi nào người về hưu chọn để sống, Bồ Đào Nha đều áp có chính sách thuế ưu đãi.
Theo chương trình dành cho người nước ngoài nhưng định cư tại Bồ Đào Nha, thu nhập hưu trí có nguồn gốc nước ngoài có thể được miễn thuế thu nhập trong thời gian tới tối đalà 10 năm.
Ngoài các thị trấn nghỉ mát siêu sang như Quinta do Lago hoặc Vilamoura, giá bất động sản là khá hợp lý. Một căn hộ một phòng ngủ ở Albufeira, khu nghỉ mát ven biển nổi tiếng có giá từ 60.000 euro (75.000 USD), theo trang web bất động sản rightmove.com.
Hệ thống y tế của Bồ Đào Nha được xếp hạng thứ 12 trên toàn cầu của Tổ chức Y tế Thế giới.

Thái Lan, đất của nụ cười

Thái Lan cũng được xếp hạng là quốc gia rẻ thứ hai trong chỉ số sinh hoạt (ảnh Thinkstock)
Giá sinh hoạt thấp, không đánh thuế đối với người hưu trí có thu nhập từ nước ngoài, khí hậu nhiệt đới và một nền văn hóa tôn trọng người già – còn có gì nữa mà người ta không thể không ưa với điểm đến được gọi là "Mảnh đất của nụ cười"?
Thái Lan cũng là nơi có mức sống phải chăng, theo tạp chí Living International.
Thái Lan cũng được xếp hạng là quốc gia rẻ thứ hai trong chỉ số sinh hoạt, với căn hộ hai phòng ngủ hạng rất sang trọng có tầm nhìn đẹp được cho thuê với giá 40.000 baht (1.200 USD) mỗi tháng.
Một đĩa hủ tiếu xào (Pad Thai) có giá khoảng 1 đô la. Ngoài ra, visa cho người nghỉ hưu (có thể gia hạn hàng năm) được cấp cho những người về hưu có lương hưu hàng tháng 65.000 baht (2.000 USD) hoặc cho những người gửi 800.000 baht (24.000 USD) vào một tài khoản ngân hàng Thái Lan.
Tuy nhiên, bạn nên lên kế hoạch mua bảo hiểm y tế của Thái Lan vì giá cả tại các bệnh viện tương đối khác nhau.

Belize, sự lựa chọn tự nhiên

Mua bất động sản là tương đối dễ dàng tại Belize (ảnh Thinkstock)
Là quốc gia duy nhất ở châu Mỹ Latin với tiếng Anh là ngôn ngữ chính thức, Belize là một sự lựa chọn tự nhiên cho người về hưu đã và đang gia tăng bởi đây là nơi có những bãi biển cát trắng và cọ xanh ngát.
Với dân số chỉ vào khoảng 350.000, nước này cũng đang thu hút ngày càng nhiều khách du lịch sinh thái.
Đối với người nghỉ hưu, nước này có một chương trình ưu đãi thuế, bao gồm cả miễn thuế nhập khẩu đối với đồ gia dụng như xe hơi hay tàu thuyền.
Người nghỉ hưu hội đủ điều kiện cũng được miễn phải trả bất kỳ khoản thuế nào ở Belize đối với thu nhập hoặc các khoản đầu tư tích luỹ từ nước ngoài.
Yêu cầu chính là người nghỉ hưu phải từ 45 tuổi trở lên và có thu nhập hàng tháng hơn 2.000 USD.
Giá bất động sản là không quá đắt so với Hoa Kỳ, nhưng không phải chăng như một số thị trường khác ở Trung Mỹ.
Nam tài tử Hollywood Leonardo DiCaprio vừa mua một hòn đảo ở phía tây của Ambergris Caye, là đảo lớn nhất ở Belize với giá được cho là 1,75 triệu USD.
Mặc dù vậy, việc mua bất động sản là tương đối dễ dàng với các giao dịch được thực hiện bằng tiếng Anh và Belize cóluật theo mô hình thuộc hệ thống của Anh, giúp bảo vệ quyền lợi của người mua.
Belize có bệnh viện tư chi phí thấp và có chất lượng cao, nhưng đối với bệnh phức tạp hơn, nhiều người nước ngoài chọn điều trị ở Mỹ.

Bài gốc tiếng Anh đã được đăng trên BBC Capital.

jeudi 7 mai 2015

Cấp cứu bệnh nhân đau tim đơn giản

Tại một tiệc cưới năm 2011, một cụ ông đang ngồi bỗng nhiên thở ngắt quãng và ngất xỉu. Nhìn ông có vẻ bị lên cơn đau tim. Có ai đó đã gọi xe cứu thương. Bỗng nhiên có một người tới xắn tay áo ông cụ lên và bắt đầu vỗ mạnh vào mặt trong khuỷu tay của cụ (khoảng hõm dưới bắp tay). Người đó cũng yêu cầu người thân của ông cụ vỗ mạnh vào khuỷu của cánh tay còn lại. Sau vài lần vỗ mạnh, cụ ông đã bắt đầu có phản ứng. Ông đã thoát khỏi cơn nguy kịch.
Y học cổ truyền tin rằng “Khí hàn gây huyết ứ, máu lưu thông kém”. Sự hình thành và loại bỏ cục máu đông diễn ra giống như của dầu đậu phộng: dầu kết lại khi nhiệt độ thấp và tan chảy trở lại khi nhiệt độ tăng. Các dòng năng lượng của tim và màng tim (Kinh Thủ Thiếu Âm) tại khuỷu tay nối thẳng đến tim. Khi bạn vỗ mạnh hai đường kinh này ở hai bên cánh tay, “sự lưu thông của khí (năng lượng)” được thúc đẩy, vậy là máu được lưu thông. Điều này giúp người bệnh ấm lên và đổ mồ hôi. “Khí dương” gia tăng giúp loại bỏ huyết khối và thông thoáng các mạch máu.
Ai cũng có thể tự trang bị kỹ năng đơn giản này mà không cần phải huấn luyện. Hàng ngày vỗ vào mặt trong khuỷu tay giúp ngăn ngừa các bệnh tim mạch và làm giảm huyết áp. Điều này giúp giảm nguy cơ bị lên cơn đau tim (nhồi máu).
Hàng ngày vỗ mạnh vào mặt trong khuỷu tay giúp ngăn ngừa các bệnh tim mạch và giảm huyết áp.
Những vết thâm trên cánh tay sau khi bị vỗ mạnh lại có thể giúp chẩn đoán xem người đó có vấn đề về tim không. Độ chính xác của phương pháp chẩn đoán này cao hơn việc dùng thiết bị y học hiện đại. Sau khi vỗ, nếu có vết thâm tím xuất hiện trên ở khuỷu tay, bạn nên tiếp tục vỗ cho tới khi vết bầm chuyển sang màu đỏ. Bất kỳ một vấn đề tim mạch nào cũng sẽ thuyên giảm, thậm chí là loại bỏ. Phương pháp điều trị này được gọi là “trị tận gốc”. Tiếp tục vỗ vào những đường kinh lạc khác (dòng năng lượng) trong cơ thể bạn, hay những nơi cảm thấy đau khi vỗ vào có thể chữa một số bệnh mà bình thường không chữa được.
Thư Hùng biên dịch
KLiên  chuyển

SỨC MẠNH CỦA LỜI CẦU NGUYỆN


SỨC MẠNH CỦA LỜI CẦU NGUYỆN

Nguyên văn bài giảng của Đức Thánh Cha Phanxicô trong chuyến viếng thăm mục vụ tại Ostie, Nam giáo phận Rôma, ngày 03/5/2015.

Có một lời mà Chúa Giêsu thường lặp đi lặp lại, đặc biệt trong bữa Tiệc ly: “Hãy ở lại trong Thầy, đừng tách ra khỏi Thầy, hãy ở lại trong Thầy”. Đời sống Kitô hữu là như thế đó: ở lại trong Chúa Giêsu. Và để giải thích rõ cho chúng ta hiểu Người muốn nói gì, Chúa Giêsu dùng hình ảnh tuyệt vời của cây nho: “Thầy là cây nho và anh em là cành”. Và cành nào không gắn liền với cây sẽ chết đi, không sinh hoa trái; và bị ném ra ngoài làm củi. Rồi chúng được dùng để đốt lửa – chúng cũng có ích đấy, nhưng không phải để sinh hoa trái. Ngược lại, những cành gắn chặt vào cây, có thể đón nhận nhựa sống và phát triển, có thể lớn lên và sinh hoa trái, hình ảnh rất là đơn sơ. Ở lại trong Chúa Giêsu có nghĩa là kết hiệp với Chúa để đón nhận từ Chúa sự sống, tình yêu, Chúa Thánh Thần. Thật vậy, tất cả chúng ta đều là kẻ có tội, nhưng nếu chúng ta ở lại trong Chúa Giêsu, như là cành nho với cây nho, Chúa đến cắt tỉa chúng ta, để chúng ta có thể sinh nhiều hoa trái hơn. Ngài luôn chăm sóc chúng ta. Nhưng nếu chúng ta tự tách ra khỏi Chúa, nếu chúng ta không ở lại trong Chúa, chúng ta chỉ là người Kitô hữu bằng lời nói suông, nhưng không sống là Kitô hữu; chúng ta là Kitô hữu nhưng là Kitô hữu chết, vì chúng ta không sinh hoa trái gì, như cành nho tách ra khỏi cây nho.

Ở lại trong Chúa Giêsu nghĩa là muốn đón nhận sự sống của Chúa, cả sự tha thứ, sự cắt tỉa nữa, ở lại trong Chúa Giêsu là muốn đón nhận từ Chúa tất cả những điều đó. Ở lại trong Chúa Giêsu nghĩa là: tìm kiếm Chúa Giêsu; cầu nguyện và cầu nguyện. Ở lại trong Chúa Giêsu nghĩa là đến với các bí tích: bí tích Thánh Thể, bí tích Hoà giải. Ở lại trong Chúa Giêsu nghĩa là – và điều này là khó nhất – làm những gì Chúa Giêsu đã làm, xử sự giống như Chúa. Ví dụ khi chúng ta ruồng rẫy người khác, hoặc nói xấu về ai, chúng ta không ở lại trong Chúa Giêsu: Chúa Giêsu không bao giờ làm như thế. Khi chúng ta nói dối, chúng ta không ở lại trong Chúa Giêsu: Chúa Giêsu không bao giờ làm như thế. Khi chúng ta buôn bán lừa đảo, chúng ta là những cành nho chết, chúng ta không ở lại trong Chúa Giêsu. Ở lại trong Chúa Giêsu là làm như Chúa đã từng làm: làm điều tốt, giúp đỡ người khác, cầu nguyện với Chúa Cha, chăm sóc kẻ đau ốm, nâng đỡ kẻ nghèo khó, tràn đầy niềm vui của Chúa Thánh Thần.

Một câu hỏi hay mà người Kitô hữu chúng ta nên đặt ra cho mình là: “Tôi đang ở trong Chúa Giêsu hay tôi đang ở xa Chúa? Tôi có gắn liền với cây nho ban sự sống hay tôi là một cành nho chết không thể sinh hoa trái, không thể làm chứng?”

Và còn có những cành nho khác mà Chúa Giêsu không nói đến ở đây nhưng Người nói đến ở chỗ khác: những người tỏ ra mình là môn đệ của Chúa Giêsu nhưng lại làm ngược với những gì mà một môn đệ của Chúa Giêsu làm, những người ấy là những cành nho giả hình. Có thể ngày chủ nhật nào họ cũng đi lễ, họ tỏ ra mình là người đạo đức, mặt nghiêm nghị như hình nộm, và rồi cuối cùng họ lại sống như người ngoại đạo. Những người đó, trong Tin Mừng, Chúa Giêsu gọi họ là “cành nho giả hình”. Chúa Giêsu rất nhân từ, Chúa gọi chúng ta ở lại trong Chúa. Chúa ban cho chúng ta sức mạnh và nếu chúng ta bị sa vào tội lỗi – tất cả chúng ta đều là kẻ có tội – Chúa tha thứ cho chúng ta, vì Chúa giàu lòng thương xót. Nhưng Chúa muốn hai điều này: là chúng ta ở lại trong Chúa và chúng ta không giả hình. Với hai điều này, đời sống Kitô hữu có thể tiến triển.

Và Chúa cho chúng ta điều gì nếu chúng ta ở lại trong Chúa? Chúng ta đã nghe thấy đó: “Nếu anh em ở lại trong Thầy và Lời Thầy ở lại trong anh em, thì muốn gì, anh em cứ xin, anh em sẽ được như ý”. Đây là sức mạnh của cầu nguyện: “Hãy xin tất cả những gì anh em muốn”, nói cách khác là phải cầu nguyện khẩn thiết, để Chúa Giêsu làm những gì chúng ta xin. Nếu chúng ta cầu nguyện cách hời hợt – nếu chúng ta không thật sự cầu nguyện trong Chúa Giêsu – cầu nguyện sẽ không sinh hoa trái, vì cành nho không được kết hiệp với cây nho. Nhưng nếu cành nho được gắn liền với cây nho, nghĩa là “nếu anh em ở lại trong Thầy và Lời Thầy ở lại trong anh em, thì muốn gì, anh em cứ xin, anh em sẽ được như ý”. Cầu nguyện có sức mạnh toàn năng. Sức mạnh toàn năng này đến từ đâu? Đến từ việc ở lại trong Chúa Giêsu, kết hiệp với Chúa, như cành nho với cây nho. Nguyện xin Chúa ban cho chúng ta ơn này.

(ltd chuyển ngữ theo bản pháp ngữ của Zenit.org)

P.Anh chuyển

NGÀY GIỜ dễ phát sinh BỆNH TẬT

           
            
Thỉnh thoảng mình cảm thấy cơ thể suy nhược và rất yếu...Có thể đó là thời khắc 
mà bệnh tật dễ phát sinh....Do tạo hóa, thời tiết và những ngày trong năm...Vào một số khoảng thời gian, thể trạng con người đặc biệt yếu, dễ bị “đánh gục” bởi mầm bệnh hoặc bệnh tái phát. Chuyên gia giải thích mối liên quan giữa quy luật thời gian và biến hóa của sức khỏe.

* Một ngày
Một ngày có hai giờ “ma quỷ”. Từ 6-9h sáng, các bệnh về tim mạch và não như thiếu máu cơ tim, co thắt ngực, loạn nhịp tim, tai biến... thường phát sinh. Tổ chức Y tế thế giới điều tra 4.769 người bệnh tử vong vì nhồi máu cơ tim, trong đó 28% phát bệnh từ 6-10h sáng. Người già và người mắc bệnh tim mạch sau khi dậy sớm nên tránh đột ngột ra khỏi nhà hoặc mở cửa sổ ngay, có thể vận động nhẹ nhàng trong phòng để lưu thông máu, để cơ thể quen với thời tiết giữa bên ngoài và trong phòng. Thời gian nguy hiểm cho sức khỏe tiếp theo là, sau chập tối, lúc này tỷ lệ phát tác của bệnh tim lại tăng lên. Nếu uống rượu khoảng 7h tối, thì sẽ cần nhiều thời gian để gan bài tiết rượu, so với các thời điểm khác trong ngày. Do đó, khoảng 7h tối uống rượu sẽ khiến gan dễ bị tổn hại, và người uống dễ bị say hơn. Sức sống của con người về đêm là rất thấp, huyết áp, thân nhiệt, hô hấp, nhịp mạch đều chậm dần, tuần hoàn máu cũng chậm theo, nồng độ hormone xuống thấp, cơ bắp giãn, phản ứng chậm chạp. Vì thế, cần hạn chế làm việc thâu đêm và thời điểm cuối ngày cần để cơ thể nghỉ ngơi, tránh căng thẳng...

* Một tuần
Các nhà khoa học Đức và Phần Lan phát hiện, vào thứ hai, số người bị đột quỵ cao nhất trong tuần và nguy cơ tử vong cũng cao hơn ngày thường 40%. Do đó, các chuyên gia sức khỏe Đức đã gọi thứ hai là ngày thứ hai đen. Điều này liên quan tới đồng hồ sinh học trong một tuần của cơ thể. Thứ hai thường được coi là ngày khởi đầu một tuần làm việc, học tập, nên khá nhiều người thấy căng thẳng khi đến ngày này, đặc biệt lại sau hai ngày cuối tuần được thư giãn. Đây cũng là ngày các căn bệnh dễ phát sinh và trầm trọng.

* Một tháng
Sau và trước ngày trăng tròn trong một tháng là thời điểm thể trạng con người dễ yếu, điều này liên quan đến khí tượng thiên văn. Sự lên xuống của thuỷ triều liên quan đến sức hút Mặt trăng, lực hút này cũng tác động đến lượng máu trong cơ thể của con người, khiến áp lực của dòng máu trong mạch giảm xuống, dẫn đến áp lực trong và ngoài thành mạch chênh lệch, khi sự chênh lệch này lớn sẽ dễ dẫn đến các bệnh tim mạch như tai biến mạch máu não.

* Một năm
Mỗi năm có hai thời điểm dễ ảnh hưởng tới sức khỏe con người. Đó là tháng cực lạnh hay cực nóng. Những năm có mùa đông với nhiều đợt lạnh kéo dài, số bệnh nhân nội trú tại viện tăng cao, tỷ lệ tử vong cũng tăng. Thời tiết lạnh sâu thường khiến sức đề kháng giảm, tinh thần dễ trầm cảm, trao đổi chất chậm. Thời tiết nắng nóng kéo dài lại dễ gây các bệnh lý tiêu hóa, tim mạch (trời nóng dễ mất nước, không bù đủ nước, máu có thể bị cô đặc lại tăng gánh nặng cho tim và dòng máu khó lưu thông).
P.Anh-D.Minh  sưu tầm

mardi 5 mai 2015

BẤT BẠO ÐỘNG

  ÐHY Phanxicô Xavie Nguyễn Văn Thuận
 
BẤT BẠO ÐỘNG
                          
Ngày 16 tháng 09 năm 2007 vừa qua, kỷ niệm 5 năm ngày ÐHY Phanxicô Xavie Nguyễn Văn Thuận qua đời, Tòa Thánh khởi sự án phong chân phước cho người. Hôm sau, khi tiếp kiến Hội đồng Tòa Thánh Công lý và Hòa bình, ÐGH Bênêđictô XVI đã gọi ÐHY là “vị Ngôn Sứ đặc biệt của niềm hy vọng Kitô.”[1]  Tại sao?

Ðây là câu trả lời của ÐHY : “Thánh giá và dây đeo này không những là kỷ niệm quý giá về những năm tù đầy, nhưng còn là một nhắc nhớ liên lỉ cho tôi biết rằng chỉ có đức ái Kitô mới có thể hoán cải tâm hồn, chứ không phải vũ khí, lời hăm dọa hay truyền thông. Những người canh gác tôi rất khó biết khi nào tôi nói về lòng yêu thương kẻ thù, sự hòa giải và ơn tha thứ.”[2]
Khi còn sinh tiền, đi đâu ÐHY Nguyễn Văn Thuận cũng khoe cây Thánh giá Người đã dầy công tác tạc trong lao tù. Cây Thánh Giá đã khắc sâu trong tâm hồn người như một hồng ân và một dấu chỉ độc nhất giúp người nhận biết và đón nhận Vua Công Chính đang cai trị Nước Thiên Chúa bằng tình yêu bất bạo động. 

ÐĂNG QUANG TRONG NƯỚC MẮT  

Giây phút cuối cùng trên thánh giá thật ngắn ngủi, nhưng cũng đủ cho Chúa thực hiện những điều vĩ đại nhất trong cuộc đời. Chưa bao giờ Chúa trải qua cơn đau khổ, nhục nhã cùng cực như vậy. Chỉ còn khoảnh khắc nữa, Chúa sẽ bị đẩy vào cõi thinh lặng ngàn thu. Nhưng chính lúc đó, Chúa đã hoàn thành sứ mạng cao cả nhất, sứ mạng công chính hóa nhân loại. Vua Công Chính đã đăng quang trong một khung cảnh ngược đời.
 Khác hẳn mọi vua chúa trần gian, Chúa đã chọn giây phút nhục nhã nhất để tỏ ra tất cả vinh quang Thiên Chúa. Hậu cảnh càng đen tối càng làm nổi bật những nét công chính vĩ đại trong tình yêu Thiên Chúa. Trong khung cảnh tối tăm và giữa những tên đại gian ác, Con Chúa đã lên ngôi dẫn theo cả một đàn em đông đúc. Kể từ giờ phút đó, Thiên Chúa “đã giải thoát chúng ta khỏi quyền lực tối tăm, và đưa vào vương quốc Thánh Tử chí ái ; trong Thánh Tử, ta được ơn cứu chuộc, được thứ tha tội lỗi.”(Cl 1:13-14)
Nhân loại đã xúc phạm đến Thiên Chúa là Ðấng Công Chính. Ðó là sự bất công vô cùng đối với Thiên Chúa. Ðồng thời họ đánh mất sư công chính thuở ban đầu. Không ai có thể đền bù nổi sự mất mát lớn lao đó. Nếu Con Chúa không lấy cái chết nhục nhã để trả lẽ công bình cho Thiên Chúa,  nhân loại muôn đời không bao giờ được công chính hóa. Hình ảnh Thiên Chúa vĩnh viễn xóa tan trong con người. May thay, Con Thiên Chúa đã đến gánh tội trần gian và chấp nhận mọi đau thương, nên con người mới lấy lại địa vị làm con Thiên Chúa.
Chính lúc đòi Thánh Tử đền thay tội trần gian, Thiên Chúa đã mạc khải tất cả tình yêu vô cùng lớn lao cho nhân loại. “Ðể cứu đầy tớ, Chúa đã hy sinh chính Con yêu.”(Lễ Phục Sinh) Hai mặt công bình và tình yêu đã tìm được hòa điệu tuyệt vời nơi Ðức Kitô, Ðấng đã chiến thắng và cứu vớt tất cả từ cây Thánh Giá.
Không có cái nhìn sâu xa đó, những người Do thái lại lên giọng thách thức Chúa : “Ông hãy cứu lấy mình!” (Lc 23:35) Câu nói được lặp lại ba lần, cho thấy công cuộc cứu độ là vấn đề chính mọi người đều quan tâm ở đây. Lần thứ nhất phát xuất từ miệng những người cầm quyền. Họ tưởng quyền bính là tuyệt đối. Họ đã không cứu, thì không ai có thể thoát khỏi tử thần. Trớ trêu thay, chính lúc họ thách thức, không những Chúa đã tự cứu chính mình, mà cả nhân loại. Thật là phi thường và bất ngờ!
Lần thứ hai những người lính cũng hò hét ngạo mạn Chúa. Theo họ, nếu thực sự là vua dân Do thái, Chúa Giêsu phải chiến đấu, như họ thường trực diện tiêu diệt quân thù. Họ muốn nhắc nhở Chúa phải triệt tiêu những điều bất chính trong trần gian. Càng gào to, họ càng không hiểu chút gì về vương quyền và vương quốc của Chúa Giêsu. Chúa không nghe theo luận điệu của họ để tiêu diệt kẻ thù trước mắt. Người không chống cự hay giận dữ. Nhưng Người phó thác số phận và cuộc đời trong tay Chúa Cha.
Lần thứ ba tiếng nhục mạ vang lên từ miệng tên gian phi. Tuy cùng chung số phận, kẻ trộm bên tả lên tiếng nghi ngờ và thách thức Chúa.  Chúa nhường lời cho người đồng phạm của y đáp trả hắn đích đáng. Chỉ cần một chút lương tri, người trộm lành lý luận với đồng phạm về bản chất công lý : “Chúng ta chịu như thế này là đích đáng, vì xứng với việc đã làm. Chứ ông này đâu có làm điều gì trái!” (Lc 23:41) Lẽ tự nhiên, có vay có trả. Tâm thức đó phản ảnh đức công chính nơi Thiên Chúa.
Người trộm lành đã tỏ ra hiểu biết Chúa chính xác. Không những thế, dù đang đau đớn cùng cực, anh vẫn tin tưởng kêu lên : “Ông Giêsu ơi, khi ông vào Nước của ông, xin nhớ đến tôi!” (Lc 23:42) Lập tức Chúa nói với anh : “Tôi bảo thật anh, hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Ðàng.” (Lc 23:43) Như một ngôn sứ vĩ đại, Chúa đã nói lên một sự thật, sự thật về lòng thương xót vô điều kiện của Chúa. Không phải chỉ bằng lời nói, nhưng qua hành động, Người đã chu toàn sứ mệnh dù đang hấp hối : “Tôi không đến để kêu gọi người công chính, mà để kêu gọi người tội lỗi.” (Mc 2:17)
Thiên Chúa có cái nhìn khác hẳn con người. Ơn cứu độ không thực hiện theo bộ diện bên ngoài. Ơn cứu độ là sự công chính hóa toàn diện, phát xuất tư tình yêu Thiên Chúa. Người muốn cứu vớt tự bên trong và hướng con người đến hạnh phúc đích thực. Người không muốn biểu diễn những pha ngoạn mục trước mắt người đời. Nhưng Người thực hiện tức khắc những gì đã hứa cho những ai thuộc về Nước Thiên Chúa. Thiên Chúa mạc khải tình yêu vĩ đại và hoàn toàn nhưng không khi Chúa tỏ lòng thương xót đối với người trộm lành. Người trộm lành trở thành biểu tượng cho những muốn ai đón nhận ơn tha thứ sâu xa của Thiên Chúa.
Chính nhờ tình yêu, Chúa Kitô đã biến đổi con người hoàn toàn. Người đến để cải hóa chúng ta. Người đưa dẫn chúng ta qua nẻo đường mầu nhiệm tới cảnh trời mới đất mới. Ðó là cách khiến Chúa Kitô trở thành vị vua rất phi thường. Ngày xưa, các ngôn sứ hay các nhân vật Cựu ước chỉ ảnh hưởng bên ngoài qua  các lề luật. Khác với họ, Chúa Giêsu biến đổi tận nội tâm con người nhờ ân sủng. Chúa không nói nhiều. Nhưng Người biến chúng ta thành tạo vật mới và trở thành con Thiên Chúa, vì đã đươc công chính hóa. Từ đó, không những là Vua Công Chính, Người còn là Tạo Hóa. Thật vậy, “trong Người, muôn vật được tạo thành.” (Cl 1:15)
Không có vị vua nào có thể sánh ví với Người. Lãnh thổ của Người bao trùm vạn vật, vì “tất cả đều do Thiên Chúa tạo dựng nhờ Người và cho Người.” (Cl 1:16) Nói khác, Người là điểm quy tụ muôn loài. Dù sống giữa những đối kháng, Người vẫn có khả năng hòa giải, vì có thể làm cho mọi loài nên công chính. Người là Vua Hòa Bình. Thật vậy, “nhờ máu Người đổ ra trên thập giá, Thiên Chúa đã đem lại bình an cho mọi loài dưới đất và muôn vật trên trời.” (Cl 1:20) Trên bàn thờ thập giá, Người đã trở thành vị Thượng Tế và Hi tế để hòa giải, nối kết và hoàn thành mọi việc trong đất trời (x. Cl 1:19).

CÔNG LÝ VÀ HÒA BÌNH  
Quả thế, “không thể có hòa bình, nếu không có công lý. Không có công lý nếu không tha thứ.”[3] Nhìn vào thực tế, ÐGH Gioan Phaolô II lý luận : “Trong tình thế hiện tại, làm sao chúng ta có thể nói về công lý và sự tha thứ như nguồn suối và điều kiện hòa bình? Chúng ta có thể và phải nói, dù khó khăn tới mấy. Khó khăn vì thường tưởng rằng công lý và sự tha thứ không thể dung hợp. Nhưng tha thứ đối nghịch với sự oán hận và trả thù, chứ không với công lý. Thực vậy, hòa bình đích thực là “công trình của công lý.” (Is 32:17) Theo Công đồng Vatican II, ‘hòa bình là kết quả việc ổn định trật tự thiên nhiên do Ðấng Tạo Hóa đã ghi khắc vào xã hội loài người và phải được con người luôn khát vọng nền công lý hoàn hảo hơn thể hiện ra hành động.’ (Gaudium et Spes, 78) Bởi đó, hòa bình đích thực là kết quả công lý. Nhưng vì công lý nhân loại mong manh và bất toàn, lệ thuộc vào những giới hạn và tính ích kỷ của cá nhân và phe nhóm, nên nó phải được bổ túc bằng sự tha thứ, có sức chữa lành và tái thiết tận nền tảng những mối tương quan đang gặp trục trặc.”[4] 
Vì thế, tuần cuối cùng năm phụng vụ là cơ hội thuận tiện nhất cho chúng ta đi tìm điểm tựa vững chắc cho công lý, hòa bình và ơn cứu độ nơi Thánh Giá. Chính nhờ Thánh Giá, Chúa Giêsu trở thành “hòa bình của chúng ta.” (Ep 2:14) Người đã phá vỡ bức tường thù hận ngăn cách dân chúng và hòa giải họ với Thiên Chúa (x. Ep 2:14-16). Như vậy, Người đã hóa giải mọi đối kháng và công chính hóa nhân loại theo đúng chương trình của Thiên Chúa. “Lời hứa hòa bình trong suốt Cựu ước đã thực hiện trọn vẹn nơi chính con người Chúa Giêsu. Thực vậy, hòa bình là phẩm tính tuyệt hảo của thời Thiên Sai, gồm mọi hiệu quả tốt đẹp khác của ơn cứu độ. Trong tiếng Do thái, nguyên nghĩa  chữ ‘shalom’  là ‘sự hoàn thành. (x. Is 9:5 tt; Mk 5:1-4) Vương quốc Thiên Sai chính xác là vương quốc hòa bình (x. G 25:2; Tv 29:11; 37:11; 72:3, 7; 85:9, 1; 119:165; 125:5; 128:6; 147:14; Dc 8:10; Is 26:3,12; 32:17 tt.; 52:7; 54:10; 57:19; 60:17; 66:12; Hg 2:9; Dc 9:10; v.v.).”[5]
Như thế, Thánh giá đã có một chiều kích vũ trụ, bao trùm toàn thể nhân loại. Hơn lúc nào, con người cần sống chung hòa bình. Nhưng nếu không học nơi Thánh giá, họ không biết cách tha thứ, yêu thương và sống công chính. Bởi thế, chỉ Thánh Giá mới dạy chúng ta bài học sâu xa về hòa bình.
“Hòa bình là một giá trị và một bổn phận chung của mọi người. Nền tảng của nó thuộc lãnh vực lý trí và luân lý của xã hội, bắt nguồn từ chính Thiên Chúa, ‘cội nguồn đầu tiên của vạn vật, chân lý cốt tử và là sự thiện tuyệt đối.’ Hòa bình không phải chỉ là vắng bóng chiến tranh, cũng không chỉ là duy trì thế cân bằng lực lượng giữa những bên đối nghịch. Hơn nữa, muốn hòa bình, phải hiểu đúng về nhân vị và cần thiết lập trật tự dựa trên công lý và tình yêu. Hòa bình bị đe dọa khi con người không có tất cả những gì xứng với nhân vị của họ, khi phẩm giá họ không được tôn trọng và khi đời sống dân sự không hướng đến thiện ích chung. Muốn xây dựng một xã hội hòa bình và phát triển toàn thể cá nhân, các dân tộc, và các quốc gia, phải bảo vệ và cổ võ nhân quyền.”[6]
Khi bị treo trên Thánh Giá, Chúa Giêsu đã cho thấy tất cả giá trị lớn lao của hòa bình đều có nguồn gốc sâu xa nơi Thiên Chúa. Ðồng thời, chính Chúa đã trả lại cho con người tất cả giá trị quý báu nhất là nhân phẩm. Chính Chúa đã làm cho con người đáng được Thiên Chúa tôn trọng. Quả thế, công lý và tình yêu đã trở lại với con người. Nhờ được công chính hóa, con người còn lên tới một địa vị cao hơn nhân phẩm. Con người trở thành con Thiên Chúa trong một gia đình có Chúa Giêsu “là trưởng tử,” (Cl 1:18) một Hội thánh có Chúa là đầu (x. Cl 1:18). 

TÌNH YÊU BẤT BẠO ÐỘNG  
Khi Vua Công Chính lên ngôi, con người tìm lại được tất cả những gì đã mất. Không những nhân phẩm được phục hồi, con người còn được sống và sống dồi dào trong tình yêu và ân sủng Thiên Chúa. Ðúng như Chúa nói : “Một khi được giương cao lên khỏi mặt đất, tôi sẽ kéo mọi người lên với tôi.” (Ga 12:32) Chúa kéo mọi người lên không phải bằng bạo lực, nhưng bằng tình yêu tha thứ, bất bạo động và công chính hóa. Chính người trộm lành đã làm chứng : “Chúng ta chịu như thế này là đích đáng, vì xứng với việc đã làm. Chứ ông này đâu có làm điều gì trái!” (Lc 23:41) Hành động bạo lực đã đưa đến cái chết. Tình yêu bất bạo động đã được nêu cao như một bài học nhân ái và công chính. “Chúa đã dạy các môn đệ bản chất bất bạo động của tình yêu có tính thánh thiêng và sức mạnh cứu độ.”[7] Quả thực, bản chất bất bạo động lộ rõ trong lời cuối của Chúa : "Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm." (Lc 23:34) Việc họ làm đầy bạo động, nhưng đã phải đầu hàng trước tình yêu bất bạo động của Chúa. Tất cả sức mạnh cứu độ nằm ở chỗ đó.
Thiên Chúa là một Thiên Chúa tình yêu bất bạo động. Ðạo lý Thiên sai là Con đường tình yêu bất bạo động. Kitô hữu là một người có tình yêu bất bạo động. Giáo hội phải là Cộng đồng mới với tình yêu bất bạo động. Ðường hướng bất bạo động trọn vẹn của Tin Mừng kêu gọi chúng ta thay đổi cách tư tưởng, nói năng, hành động và lối sống tình cảm nữa.
“Nhiệt lực cần cho việc điều hành các nước trên thế giới là bạo động. Ðó là lý do tại sao Chúa Giêsu không chấp thuận cơn cám dỗ trong sa mạc khi ma quỷ dâng Chúa quyền thống trị các nước trên thế giới. Ðó là lý do tại sao nhà nước không phải là đối tượng cứu độ trong Tin Mừng. Quyền lực có khả năng biến đổi. Chúa Giêsu thi hành nhiều thứ quyền lực khác. Quyền chữa lành, quyền tha tội, quyền yêu kẻ thù và quyền thương xót là tất cả mọi hình thức quyền lực và tất cả đã làm thay đổi hạnh phúc con người đời này cũng như đời sau. Thực vậy, thánh Phaolô gọi Chúa Giêsu và Thánh giá Chúa là ‘sức mạnh và sự khôn ngoan của Thiên Chúa’(1 C 1:24). Tuy nhiên, Chúa Giêsu không chú tâm tới quyền lực Satan trao tặng, vì quyền hành đó là bạo lực giết người. Chúa Giêsu không chấp nhận trở thành vua dân Do thái hay thủ tướng của một cơ chế chính trị.”[8]
Trong khi đó, để bảo vệ an ninh và hạnh phúc cho một số nhỏ, nhiều nhà nước trên thế giới đang chà đạp nhân phẩm. Mạng sống con người không còn được tôn trọng. Các quyền căn bản nhất cũng bị tước đoạt. Người ta dùng mọi hình thức khủng bố và bạo động để đàn áp con người. Xã hội sẽ đi về đâu khi tràn ngập những hình thức bạo động như thế?!
Nhạc sĩ Tuấn Khanh đau đớn nhìn vào thực trạng xã hội Việt Nam hôm nay: “Rồi mai đây, chúng ta sẽ làm một tấm bia tưởng niệm cho lòng nhân ái của con người, lòng kính trọng cho nền giáo dục. Tấm bia có thể sẽ được dựng ở quảng trường thành phố, khắc ghi với dòng chữ “ở đất nước này, nơi đây, đã từng có một giai đoạn, con người đối xử với nhau như dã thú. Công an đã nhét súng vào họng thường dân để tra khảo. Thầy cô đã giao học trò mình cho những người có vũ trang đánh đập. Người cùng màu da đã nhục hình trẻ con 10 năm. Thế hệ trẻ đã hận thù nhà trường, căm hận xã hội và cười chê, phỉ nhổ vào nền đạo đức giáo khoa... và tất cả những điều đó, điều đã bị lãng quên trong sự vô và cố tình của của nhiều tầng lớp con người, kể cả quan chức có trách nhiệm.
Những điều dị thường đó, xảy ra hàng ngày, khiến những giọt nước mắt khóc thương cho bé trai 13 tuổi tự tử vì danh dự 47,000 đồng đã rơi ít đi, niềm vui cho bé gái bị nhà trường tra khảo đến phát điên vì 47,800 đồng oan, nay đã nói lại được cũng lặng lẽ hơn. Xã hội đã chai lì, con người đã làm quen với những điều bất khả mà nay quá thường nhật: như con thú ăn cỏ sau khi làm quen uống máu đồng loại đã biến thái vô luân.”.[9]
Ðàng khác, dưới sức ép của quyền lực bạo động nào, các tôn giáo phải chịu thiệt thòi về mọi mặt như hiện nay? Ðiển hình, “Hòa thượng Quảng Độ nói trước tập thể Dân oan khiếu kiện tại Văn phòng 2 Quốc hội CS (ở Sài Gòn) ngày 17-7-2007: “Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất cũng là nạn nhân của chế độ như đồng bào. Giáo hội chúng tôi cũng bị cướp đoạt tất cả mọi cơ sở, từ giáo dục, từ thiện cho đến chùa viện….. Giáo hội chúng tôi cũng đã từng khiếu kiện suốt ba mươi năm qua. Cho đến nay đã có cả nghìn bức văn thư khiếu kiện, mà họ không hề phản hồi một văn thư nào, không giải quyết gì cả. Họ coi dân như cỏ rác”. Riêng Công giáo, thì Nhà nước CS vẫn tiếp tục cưỡng chiếm 102/107 ha của đan viện Thiên An, Huế, cưỡng chiếm 17/23.5 ha của linh địa La Vang, Quảng Trị cùng hàng ngàn cơ sở (tu viện, trường học, bệnh viện, nhà trẻ, viện mồ côi…)”[10]
Ðó là những thiệt hại vật chất. Nhưng thiệt hại đó làm sao so sánh với những thiệt hại về tinh thần?! Thực vậy, “Các tôn giáo vẫn không có được báo chí, nhà xuất bản, đài phát thanh, đài truyền hình của riêng mình.”[11]
Ðường lối khủng bố và bạo lực sẽ đưa xã hội Việt Nam về đâu?
Tự bản chất tôn giáo bất bạo động. Tôn giáo như nước. Ai có thể coi thường sức mạnh của nước? Hãy nhìn gương Miến Ðiện, Ba lan để học lấy bài học về sức mạnh của thế lực bất bạo động. “Nhu thắng cương. Nhược thắng cường.” Ðông Tây Kim Cổ thời nào cũng thế thôi!
Tóm lại, chỉ có con đường bất bạo động của Vua Công Chính mới dẫn con người đến công lý, hòa bình và tiến bộ thực sự. Chúa là nạn nhân của bạo động, nhưng đã vượt thắng bằng chính tình yêu bất bạo động của mình.  
Lạy Chúa, Chúa đã mạc khải bản chất tình yêu bất bạo động như một sức mạnh cứu độ của Thiên Chúa. Xin cho chúng con biết nhìn lên Thánh Giá để học bài học tha thứ và thấy tất cả vinh quang của Vua Công Chính trong công cuộc cứu độ nhân loại. Amen. 

Đỗ lực
 (Lc 23:35-43)
Viết ngày 25.11.2007


[2] Nguyễn Văn Thuận, “Kinh Nghiệm về Quyền Lực Giải Thoát của Thiên Chúa,” Diễn Văn tại Hội Nghị về Giáo Dục Tôn Giáo tại Los Angeles, trước khi người qua đời năm 2002.
[4] ibid.
[5] Toát Yếu Giáo Lý Giáo Hội về Xã hội, 491.
[6] ibid., 494.
[8] ibid.
[11] ibid.
Tác giả:  Phúc Âm Nhật Ký, Lm. Đỗ Vân Lực, op.

lundi 4 mai 2015

CHÍNH NGÀI ĐÃ DẪN CON ĐI


CHÍNH NGÀI ĐÃ DẪN CON ĐI

 Lm. Lê văn Quảng  (Dịp lễ ngân khánh linh mục)


Một cô bé bảy tuổi nghe cha mẹ mình nói chuyện về đứa em trai nhỏ. Cô bé chỉ hiểu rằng em mình đang bị bệnh rất nặng và gia đình cô không còn tiền.

Cô bé nghe bố nói với mẹ bằng giọng thì thầm tuyệt vọng: “Chỉ có phép màu mới cứu sống được Andrew”. Thế là cô bé vào phòng mình, kéo ra một con heo đất được giấu kỹ trong tủ. Em dốc hết đống tiền lẻ và đếm cẩn thận.

Rồi cô bé lẻn ra ngoài bằng cửa sau, đến tiệm thuốc gần đó. Em đặt toàn bộ số tiền mình có lên quầy.

Người bán thuốc hỏi: “Cháu cần gì?”

Cô bé trả lời: “Em trai của cháu bệnh rất nặng và cháu muốn mua phép màu.”

- Cháu bảo sao? – Người bán thuốc hỏi lại.

-. Em trai cháu bị một căn bệnh gì đó trong đầu mà ba cháu nói chỉ có phép màu mới cứu được nó. Phép màu giá bao nhiêu ạ?

- Ở đây không bán phép màu, cháu à. – Người bán thuốc nở nụ cười tỏ vẻ cảm thông với cô bé.

- Cháu có tiền trả mà. Nếu không đủ, cháu sẽ cố tìm thêm. Chỉ cần cho cháu biết giá bao nhiêu?

Trong cửa hàng còn có một vị khách ăn mặc thanh lịch. Sau khi nghe câu chuyện, ông cúi xuống hỏi cô bé: “Em cháu cần loại phép màu gì?”

- Cháu cũng không biết nữa – Cô bé trả lời, rơm rớm nước mắt. “Nhưng em cháu rất cần phép màu đó. Nó bị bệnh nặng lắm, mẹ cháu nói rằng nó cần được giải phẫu, và hình như phải có thêm loại phép màu gì đó nữa mới cứu được em cháu. Cháu đã lấy ra toàn bộ số tiền để dành của mình để đi tìm mua phép màu đó.”

- Cháu có bao nhiêu? – Vị khách hỏi. Cô bé trả lời vừa đủ nghe: “Một đô la mười một xu.”

Người đàn ông mỉm cười: “Ồ! Vừa đủ cho cái giá của phép màu”.

Một tay ông cầm tiền của cô bé, tay kia ông nắm tay em và nói: “Dẫn bác về nhà cháu nhé. Bác muốn gặp em trai và cha mẹ cháu để xem bác có loại phép màu mà em cháu cần không.”

Người đàn ông thanh lịch đó là Bác sĩ Carlton Armstrong, một phẫu thuật gia thần kinh tài năng. Ca mổ được hoàn thành mà không mất tiền, và không lâu sau, đứa bé đã có thể về nhà, khỏe mạnh.

Mẹ cô bé thì thầm: “Mọi chuyện diễn ra kỳ lạ như có một phép màu. Thật không thể tưởng tượng nổi. Thật là vô giá!”. Cô bé mỉm cười. Em biết chính xác phép màu giá bao nhiêu. Một đô la mười một xu, cộng với niềm tin chân thành của một đứa trẻ, và lòng tốt của người bác sĩ.

Kính thưa quí ông bà anh chị em. Nếu mỗI ngườI ngồI ngẫm nghĩ lạI cuộc đờI của mình, mỗI ngườI sẽ cảm thấy rõ ràng: chúng ta còn sống và được như ngày hôm nay, thật sự phảI nói là một Phép Mầu. Và đây cũng chính là điều tôi muốn chia sẻ vớI quí ông bà anh chị em trong thánh lễ hôm nay.

Nhiều ngườI nghĩ rằng chúng tôi những linh mục là những con ngườI tài ba đức độ nên mớI được Thiên Chúa tuyển chọn. Tôi không nghĩ thế. Tôi không nghĩ vì mình tài ba đức độ mà được Thiên Chúa tuyển chọn. Không, không phảI thế. Tình yêu Thiên Chúa trên tôi và chọn tôi không phảI vì tôi trổI vượt hơn những ngườI khác. Tình yêu Thiên Chúa trên tôi không căn cứ vào công trình của tôi. Đó là một tình yêu hoàn toàn nhưng không, một tình yêu hoàn toàn vô điều kiện, vì nếu tình yêu ấy căn cứ vào tài đức của tôi, khi tài đức tôi không còn nữa thì tình yêu ấy cũng sẽ biến mất. Nhưng khi tình yêu ấy căn cứ trên cái nhưng không, tình yêu ấy không thể bị tiêu diệt và tôi sẽ không bao giờ mất nó vì nó không đến do một công trình nào của tôi mà là một món quà nhưng không của Thiên Chúa.

NgồI ngẫm nghĩ lạI, tôi thấy việc Chúa làm thật là mầu nhiệm. Lớp chúng tôi khi mớI vào tiểu chủng viện là 65. Nhưng cuốI cùng chịu chức chỉ còn 4. Một ở Úc, 2 đang ở Việt Nam, và tôi đang ở đây. Nhiều anh trong lớp tôi rất là thông minh tài giỏI, lanh lẹ. Nhưng thường  những chú bé thong minh lanh lẹ thì cũng hay tinh nghịch nên đã bị nhà trường cho về. Chính vì thế, thiểu số còn lạI không hẳn là những ngườI thông minh lanh lẹ hơn những ngườI kia, mà có thể nói là khù khờ hơn.

Một điều rõ ràng hơn nữa là sau biến cố 30/4/75. Tất cả các chủng viện đều đóng cửa. Để tồn tạI chúng tôi phảI sống thành những nhóm nhỏ, từ những sinh viên trắng trẻo đẹp trai của đạI chủng viện ngày nào, bỗng chốc trở thành những anh chàng nhà quê lem luốt, đen đủi, xấu xí, ngày ngày chỉ biết lam lũ để sản xuất. Nhóm chúng tôi đi làm muốI, mỗI ngày phảI ra đồng làm việc từ 7:30 sáng đến 6 giờ tối. Sau 10 năm trờI lam lụ vất vả, tôi cảm thấy hoàn toàn kiệt sức từ tinh thần lẫn thể chất. Chính vì thế tôi đã quyết định ra đi.

Và tôi đã khám phá ra điều nầy: khi Thiên Chúa đóng cửa trước thì Ngài mở lối sau. Trước kia tôi không bao giờ dám nghĩ đến chuyện vượt biên vì sợ cảnh ngục tù và chết chóc. Nhưng rồI bị đưa đẩy vào bước đường cùng, tôi không còn chút sợ hãi nữa, sẵn sàng chấp nhận: một là chết hai là vinh quang, không chấp nhận cảnh nô lệ, nên tôi đã ra đi. Hai lần đầu thất bạI nhưng may mắn không bị bắt. Lần thứ ba thì thành công nhưng rồI lạI gặp giông to bão tố. May mắn là được tàu hảI quân Mỹ vớt, nếu không chúng tôi cũng đã trở thành những miếng mồI ngon cho cá biển. Vì thế càng ngẫm nghĩ tôi càng cảm thấy như có một phép màu nào đó đã che chở phù hộ để mình vẫn còn sống đến ngày hôm nay.

Xa hơn tí nữa, mọI ngườI đều nghĩ rằng đất lành chim đậu và đất Mỹ sẽ là chỗ dừng chân lý tưởng. Nhưng rồI trong cuộc sống, có nhiều điều lạ lùng xảy ra dường như có một bàn tay vô hình nào đó muốn an bài, muốn dẫn dắt để đưa tôi đi vào con đường mà Ngài muốn tôi đi. Trong lúc còn đang phân vân ngẫm nghĩ thì tôi đọc phảI một câu chuyện rất cảm động nầy:

Năm 1962, chiếc phi cơ của hãng Panam Mỹ chở mấy trăm ngườI, trong đó có một số giám mục Mỹ từ NewYork đến Rôma để họp công đồng chung Vaticanô II. Trong chuyến bay có 2 cô tiếp viên hàng không, một trong hai cô có nét đẹp  tuyệt vời. Trên chuyến bay, có một cụ già đã lưu ý đặc biệt đến sắc đẹp của cô. Cụ vừa nhìn ngắm vừa ngẫm nghĩ môt cái gì đó khác thường. Thế rồI khi phi cơ hạ cánh, mọI ngườI chuẩn bị xuống phi cơ thì cụ già đó vẫn cứ ngồI yên. MọI ngườI lần lượt bước ra khỏI phi cơ, cụ là ngườI cuốI cùng rờI chỗ. Và trước khi giã từ, ngườI ta thấy cụ  đưa miệng ghé vào tai cô tiếp viên xinh đẹp kia nói nhỏ một câu gì không ai biết được. Chúng ta có biết cụ già ấy là ai không? Đó là đức giám mục Fulton Sheen, tổng giám mục NewYork., một nhà hùng biện nổI tiếng nước Mỹ.

Bốn tháng sau, khi khóa một công đồng chung Vaticano kết thúc, các giám mục được về nước nghỉ. Một hôm, nghe tiếng chuông reo, ngài ra mở cữa,  cô tiếp viên nói: Thưa đức cha, đức cha có còn nhớ con không? Tôi còn nhớ lắm. Cô là tiếp viên trên chiếc hàng không đưa chúng tôi đến Roma. Đức cha có còn nhớ đã nói gì vớI con không? Tôi đã nói: có khi nào cô đã cảm tạ ơn Chúa vì Ngài đã ban cho cô sắc đẹp tuyệt vờI ấy không? Thưa đức cha, chính vì câu hỏI đó mà hôm nay con đến hầu chuyện đức cha. Đức cha thử nghĩ con phải làm gì để tạ ơn Chúa? Ngài ngẫm nghĩ trong chốc lát, sau đó đưa cô đến bản đồ thế giớI, vừa chỉ vừa nói: đây là Việt Nam, đây là Sài Gòn, và đây là DiLinh. Cha vừa mớI được một tin từ Việt nam: đó là đức cha Jean Casssaigne, một ngườI Pháp đang làm tổng giám mục Sàigòn, đã xin từ chức để đi  phục vụ một trạI phong cùi ở miền núi DiLinh. Vậy con có muốn  hy sinh một thờI gian, đem tiếng nói dịu dàng, nụ cườI hồn nhiên, duyên sắc mặn mà của con để an ủI họ không? Nghe đến đó, mặt cô tiếp viên tái dần đi. Cô đứng lặng yên trong mấy phút. Đột nhiên cô cúi đầu tạm biệt không nói một lời.

Câu chuyện tưởng chừng như kết thúc, rồI bỗng nhiên một ngày kia tiếng chuông điện vang, ngài ra mở cữa, vớI nụ cườI tươi, cô tiếp viên thưa vớI ngài: Thưa đức cha, bây giờ thì con đã sẵn sàng để đi VN. Xin đức cha giúp con để liên lạc. Và ngài rất hài lòng giúp đỡ. Rồi năm 1963, đài phát thanh cũng như báo chí ở Sài Gòn loan tin: Một nữ tiếp viên rất xinh đẹp của hãng hàng không Panam tình nguyện đến DiLinh, Lâm Đồng để sống vớI những ngườI phong cùi trong 6 tháng. Nhưng rồI sau 6 tháng, cô đã tình nguyện ở lại phục vụ những bệnh nhân nầy suốt đờI của cô. Cô xin gia nhập dòng nữ Phan xicô. Sau những năm vào nhà tập, cô đã trở thành bà sơ Phanxico vớI danh xưng sr. Louise Bannet. Ngày sơ nầy khấn lần đầu, rất nhiều ngườI đã đến tham dự  lễ khấn để chúc mừng, chia vui, và khích lệ sơ. Sau đó sơ đã phục vụ rất tận tình trong niềm vui của một cuộc đờI tận hiến. Nhưng rồI biến cố tháng tư năm 1975 xảy ra, sơ bị trục xuất. Sơ rất đau buồn rờI khỏI VN và những bệnh nhân ở đó. Sơ trở về Mỹ một thờI gian và sau đó  đi Phi Châu  phục vụ trạI cùi ở Tahiti cho đến khi chết. Năm 1982 sơ chết vì bệnh ung thư giữa sự thương tiếc của mọI bệnh nhân. Sơ Louise Bannet đã hy sinh tất cả cuộc đờI để mang lạI niềm vui và sự an ủI lớn lao cho những con ngườI bệnh tật đầy đau khổ.

Quả thật, đây là một trong những tấm gương sáng chói của các nhà truyền giáo đã thu hút đờI tôi và đã làm tôi suy nghĩ: Họ là ai? Sao họ anh hùng thế? Không, họ không là những anh hùng. Họ cũng không là những nhà xuất chúng. Không là những nhà thông thái. Họ chỉ là những con ngườI âm thầm vô danh đã dám hy sinh cả một cuộc đờI cho công việc truyền giáo. Họ sẵn sàng chấp nhận mọI rủI ro, tai họa. Họ sẵn sàng chấp nhận mọI gian lao thử thách. Họ sẵn sàng chấp nhận mọI thương đau bệnh tật. Dẫu âm thầm vô danh nhưng họ là những chiến sĩ rất hào hùng, hào hùng trong hy sinh, hào hùng trong chiến đấu, hào hùng trong cuộc sống. PhảI nói: Họ khác vớI những con ngườI tầm thường như chúng ta. Họ có cái gì cao thượng. Họ có cái gì cao quí. Họ có cái gì cao đẹp khiến mình phảI ngưỡng phục, phảI học hỏI cho dẫu biết rằng suốt đờI mình không thể nào làm được những điều như họ, nhưng mình vẫn muốn bắt chước, muốn đi theo con đường họ đang đi. Chính vì thế tôi đã nốI gót theo họ.

Và  sau 25 năm trên bước đường truyền giáo tôi cảm thấy rõ điều nầy: đờI truyền giáo quả thật có đầy những gian lao vất vả nhưng cũng có nhiều yên ủI lớn lao, có những mồ hôi rướm máu, nhưng cũng có những hoa trái khích lệ. Và càng ngẫm nghĩ tôi càng cảm thấy thâm tín điều nầy: Không phảI con đã chọn Cha, nhưng chính Cha đã chọn con và đã dẫn con đi qua những con đường mà Ngài muốn con phải đi.

Thật vậy, 30 năm trước không bao giờ tôi dám nghĩ đến chuyện vượt biên. 30 năm trước không bao giờ tôi dám nghĩ đến chuyện xuất ngoại. 30 năm trước không bao giờ tôi dám nghĩ đến chuyện đi du học, và càng không bao giờ nghĩ đến chuyện đi truyền giáo ở một đất nuớc xa xôi nào đó. Nhưng rồI chương trình của Thiên Chúa thì khác hẳn vớI chương trình của con ngườI. Chính Ngài đã an bài mọI sự và đã hướng dẫn tôi đi vào con đường mà Ngài muốn tôi phảI đi.

Trong thánh lễ hôm nay, chúng ta hãy dâng lờI cầu nguyện cách riêng cho những nhà truyền giáo, xin Chúa luôn nâng đỡ họ và đồng hành vớI họ trên mọI bước đường họ đang đi. Đặc biệt hôm nay trong thánh lễ nầy, xin anh chị em hãy cùng tôi dâng lên Thiên Chúa những lờI cảm tạ chân thành vì muôn hồng ân Ngài đã ban xuống cho tôi trong suốt 25 năm qua trên bước đường truyền giáo. Và cũng xin tiếp tục cầu nguyện và nâng đỡ tôi trên quãng đường đờI còn lạI để tôi luôn giữ được sự bình an và lòng hăng say phục vụ cho cánh đồng truyền giáo mà Chúa muốn tôi ra đi để phục vụ cho nước Ngài.

Cali. ngày 6/7/2014.